SA (LONG, HỔ, ÁN SƠN)

 2. NÚI

Trong lục hào, lấy cung Cấn hoặc quẻ Cấn để thủ tượng núi, quẻ chính và quẻ biến đều có thể trích xuất. 

(1) Đôi khi cũng lấy thổ lâm Câu Trần để biểu thị núi. Lâm Đằng Xà phát động là núi cao nhấp nhô ngoằn ngoèo, lâm Thanh Long là thanh tú đẹp đẽ, lâm Chu Tước là chim kêu, lâm Bạch Hổ là cao và hiểm, lâm Huyền Vũ là âm u,...

(2) Nhật Nguyệt đến hợp là núi non trùng điệp, 

(3) hóa ra thủy là có dòng suối trong vắt, hóa ra mộc là rừng rậm cỏ cây um tùm, hóa ra kim là đá san sát. Hóa Tiến thần, vô cùng quanh co; hóa Thoái thần, đây là tận cùng.

(4) Nguyệt phá hoặc hóa phá, chủ núi có phân nhánh; 

(5) Không hoặc hóa Không, khe rãnh ngang dọc.

(6) Hào Thế lâm mộc hưu tù Tử Tuyệt là núi trọc, hào Thế lâm thổ Nguyệt phá Nhật phá là núi cao dốc đứng, hào Thế lâm kim quá vượng là núi đá, 

(7) hào Thế phát động sinh hợp hào Ứng là vượt qua núi, hào Thế gặp Tuyệt địa độc phát là núi duy nhất.

3. SA

Sa là những ngọn núi bảo vệ huyệt mộ. Lấy hào thổ, Câu Trần làm ký hiệu đặc trưng. Thanh Long Bạch Hổ là núi che chở bên trái và bên phải, hào Ứng là Triều Sơn. 

(1) Vượng tướng thì cao to, hưu tù thì thấp bé, Không Vong thì không có. 

(2) Sinh hợp hào Thế thì hữu tình, khắc hào Thế thì vô tình. Hưu tù Không Phá, mặc dù sinh hợp hào Thế nhưng cũng chỉ là giả Triều Sơn. Lâm Thanh Long, vượng tướng sinh hào Thế, ngọn núi cân đối tú lệ, tại hào 5, là tôn để trước mặt, chủ phú quý cực kỳ. Lâm Chu Tước, ngọn núi hình giá bút, là văn bút tú, lâm Phụ Mẫu, thường xuất văn nhân, lợi cho khoa giáp, thi cử.

(3) Tam hợp cục thì ba ngọn đứng cạnh nhau, hợp cục thì nhiều nhánh, như Hợi Mão Mùi thành cục, hai Hợi hoặc hai Mùi thổ, thì năm ngọn đứng cạnh nhau.

(4) Gặp xung thì không ngay ngắn, gặp hợp thì liên miên. Thủy xung hào Ứng, dòng nước chảy ra. 

4. LONG HỔ

Long hổ là sa hai bên của huyệt trường, bên trái là Thanh Long, bên phải là Bạch Hổ. Trong lục hào, lấy hào lâm Thanh Long Bạch Hổ mà luận. 

(1) Vượng tướng thì cao to, hưu tù thì thấp bé. Tử Tuyệt thì không có long hổ.

(2) Sinh hợp hào Thế gọi là hữu tình, xung khắc hào Thế gọi là vô tình. Bạch Hổ phát động khắc hào Thế là Bạch Hổ giết người, hung họa không ngừng. Hào Thế lâm Bạch Hổ hóa hồi đầu khắc là Bạch Hổ quay đầu lại, lâm Thanh Long hồi đầu sinh là Thanh Long quay đầu lại. Không sợ Thanh Long cao vạn trượng, chỉ sợ Bạch Hổ quay lại nhìn, cát hung họa phúc xem quẻ tự nhiên minh bạch.

(3) Hào lâm Thanh Long Bạch Hổ tương xung khắc, long hổ tranh đấu, lấy vượng tướng khắc chế là áp bức. Lại lấy khoảng cách với hào Thế để phán đoán khoảng cách long hổ hợp huyệt.

(4) Hào Thanh Long Bạch Hổ tương sinh hợp, lại là cát thần, là long hổ ôm nhau, phúc lộc lâu dài. Thanh Long hợp Bạch Hổ là long ôm hổ, Bạch Hổ hợp Thanh Long là hổ ôm long. 

5. ÁN SƠN

Án sơn là những ngọn núi thấp bé trước huyệt. Án sơn cũng như bàn làm việc, phối hợp thỏa đáng thì có lợi cho quan vận và học hành thi cử. Án sơn có các dạng như ngọc kỷ, hoành cầm, cung miên, tịch mạo, án kiếm, quy xà, bút giá, ngọc ấn,...Trong dự đoán lục hào, lấy hào Ứng,  hào Chu Tước hoặc hào trước hào Thế một vị trí 

để luận án sơn. 

(1) Vượng tướng thì cao to, hưu tù thì thấp bé, Nguyệt phá Nhật phá, án sơn phá bại, xiêu vẹo; Không Vong thì có lỗ hổng, hố đất,...

(2) lại xem quan hệ sinh khắc giữa hào Thế với những hào phía trên để phán đoán. Sinh hợp hào Thế là hữu tình. 

(3) Lại lấy ngũ hành để phân biệt hình dạng án sơn. Là thổ thì án cao rộng như hình vuông, là hỏa thì án nhọn và thanh tú như giá để bút, là kim thì án tròn tròn như viên ngọc, là mộc thì án dài như cán bút, là thủy thì án thấp và uốn cong như gợn sóng.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

HÀO HAI

HÀO SƠ

HÀO SÁU