GIA TRẠCH

Gia trạch: Cổ đại chỉ là âm, dương nhị trạch. Ở đây chủ yếu nói về dương trạch trong gia trạch, nhưng không bao gồm thuyền trạch. Bởi vì dương trạch dính đến nhân khẩu và phong thủy, nội ngũ hành và ngoại ngũ hành, hoàn cảnh không khí, từ trường ảnh hưởng sinh ra hiệu quả cát, hung đối với con người, muốn lý giải tiết này, nhất định đầu tiên phải hiểu rõ một chút các kiến thức phong thuỷ thưởng thức.

Bát Quái đoán gia trạch đơn giản là từ trong Bát Quái Lục hào phát hiện các phương vị gia trạch bao hàm tin tức cát hung, chỉ cần chúng ta nắm giữ Bát Quái phong thuỷ, liền sẽ lấy quẻ xem nhà, lấy nhà xem sự tình cần hỏi.

Hình thức truyền thống là lấy Long, huyệt, thủy, cát, sơn hướng định cục bố quẻ, khảo sát thực địa chọn ngày lành tháng tốt xử lý, gọi chung là xem phong thủy.

Bát Quái xem đoán phong thuỷ dương trạch là văn hóa Dịch Học và văn minh hiện đại kết hợp mà sinh ra. Nó thuộc về kỹ pháp dự đoán cao tầng.

Bát Quái xem đoán phong thuỷ dương trạch, cụ thể như thế nào đây? 

1. Đầu tiên xem nội ngoại quái tượng, nội là nhà, ngoại là người

(1) vượng tướng người, người nhà thịnh vượng,  hưu tù tử tuyệt người, cư trú vô khí, nhân khẩu không vượng, gia vận không phát. 

(2) Nội ngoại sinh hợp tỉ hòa người cát, tướng hình xung khắc hại người hung, không vong càng hung. 

(3) Nếu quẻ tượng suy không chân không, cần xem hào Dụng, lấy hào hai là nhà, hào năm là người, 

* người khắc nhà là tốt,

* nhà khắc người thì nơi ở không hưng, nhân quyến nhiều tai nạn.

* Hào hai vượng nhà nhiều, 

* hào năm hưng nhân khẩu vượng, 

* hưu tù tử hung, 

* vượng sinh hợp cát, 

* hình xung khắc hại hung, nếu như hào lại không, tất có hoạ diệt môn.

2. LỤC THÂN

Mặt khác từ lục thân để xem. 

(1) Hào Thế là ta, hào Ứng thê, nữ xem quẻ, Ứng là chồng. 

(2) Hào Phụ dương là bố, hào Phụ âm là mẹ, 

(3) hào Huynh dương là anh em, hào Huynh âm là chị em.

(4) Thê tài dương là chính thê, Thê tài âm là vợ bé. 

(5) hào Tử dương là con trai, hào Tử âm là con gái, 

(6) hào Quỷ dương là tổ phụ, hào Quỷ âm là tổ tỷ. 

3. Hào Dụng trên quẻ cát

(1) hào Dụng vượng tướng, được Thái Tuế Nguyệt Nhật hợp là cát. 

(2) Hào Dụng hưu tù tử không phục tàng mà không hiện lên quẻ hung, mang sát động, bị Tuế, Nguyệt, Nhật hình hại khắc phá là hung. 

(3) Hào Dụng cầm Quỷ, phục Quỷ, hóa Quỷ, Quỷ dương chủ có quan tụng, Quỷ âm tất có tại nạn bệnh tật. 

Phàm gặp hào Dụng phục dưới Quan quỷ tất có bệnh tụng, gặp có nhiều việc cản trở.

4. Lại có thể đem hào Dụng theo bốn mùa ngũ hành phân đoán. 

(1) Như mộc Dụng mang cát thần mùa xuân gặp hỉ; 

(2) Hỏa Quỷ mang sát mùa hạ sinh tai; 

(3) kim trị Thê tài thu hợp được lợi;

(4) thủy phùng Huynh đệ đông tất phá tài; 

(5) thổ chủ bốn mùa phân Thìn, Tuất, Sửu, Mùi cát hung rõ ràng; nếu gặp không vong, cát không thì hung, hung không phản cát.

5. Cổ nhân đem sáu hào phân lục thân hào vị dần dần phân bố, xem hào tượng cát hung, sự tình toàn minh.

(1) Hào 6: Tổ Tỷ, tổ tông, nô tỳ, xà ngang, trụ, tường vây, ngựa.

(2) Hào 5: Phụ, hương hoả, nhà dài, con đường, nhân khẩu, trâu.

(3) Hào 4: Vợ, ngoài nhà, hố xí, dê.

(4) Hào 3: Bá Thúc, huynh đệ, cửa chính, phòng ngủ, tủ, giường, đối, tủ giày, lợn.

(5) Hào 2: Mẹ, nhà mẹ, học đường, bếp, mèo chó.

(6) Hào 1: Tử Tôn, nền nhà, mương, rảnh, sông ngoài, giếng, gà vịt.

Phân loại hạng mục công việc có quan hệ trong ngoài, phong thuỷ hiện đại là hiếm thấy, như:

* Đối: Là công cụ cổ đại dùng để giã gạo, hiện đại ngoài dân tộc thiểu số thỉnh thoảng thấy có tồn tại còn đại bộ phận đã biến mất.

* Lục súc những vật này tại nông thôn thì phổ biến nhưng không còn phân ra các chuồng chăn nuôi. Thành thị chỉ có thể đoán có vật thể, mô hình bài trí, đồ mỹ nghệ trưng bày, có khi còn cần biến đoán. Như bộ vị hào hai trưng bày chó hoặc hổ, như hiện đại người ở thành phố thích chăn nuôi mèo, chó, có thể trực tiếp đoán là vật này.

Lại có tuyệt cú mật truyền trong «Chương gia trạch>>: "Gặp xung gặp khắc sự tình bất lợi, Hổ lâm Huynh đệ là cừu nhân, Thìn Tuất Sửu Mùi Kỵ thần đáo, hai bên phần mộ ngại môn đình; Huyền Vũ Quan quỷ lâm Hợi Tý, cần biết đời trước có Thủy Thần...", "Phần mộ". "Thủy Thần trong hai câu trên đối với nông thôn là phổ biến nhưng ở thành thị thì kết luận này thực sự làm cho người ta khó mà tiếp nhận, đoán quẻ thì cần linh hoạt nắm giữ và vận dụng.

6. Lục hào phân luận:

Khi dùng Lục hào đoán gia trạch, cần căn cứ hào tượng, hào vị, hào dương dương vị, hào dương âm vị, hào âm âm vị, hào âm dương vị để xem xét tỉ mỉ, hào và hào, hào và tam truyền (Tuế, Nguyệt, Nhật) vượng suy, hình xung hợp hại, sinh khắc chế hóa phân biệt cát hung. Những thứ có liên quan như giếng, giường, xí, cửa, nhà, con đường, hương hỏa, xà cột, phần mộ, lục súc phân bố là bản thân sản phẩm cố hữu, là cát là hung cần kết hợp phong thuỷ, bát trạch cửu cung nghiên cứu tỉ mỉ, không thể nói bừa. Đoán quẻ thì đương nhiên phải căn cứ hào vị, chỗ lâm hào, lục thần để quyết đoán.

(1) Dụng thần gặp Phụ động, thì Tử tổn thương, gia súc tổn hại; 

(2) Huynh động thì vợ tổn thương, Tài hao tổn; 

(3) Quỷ động, tổn thương anh lớn nhỏ không yên, này sinh quan phi; 

(4) Tử động, khắc chồng, tước chức; 

(5) Long Quỷ cầm khác hi chỗ sinh tai; 

(6) Tước Quỷ Tước Huynh cầm khắc, cãi vã phá hao; 

(7) Xà Quỷ cầm khắc, sợ bóng sợ gió; 

(8) Huyền Quỷ cầm khắc, không phải việc ngầm đạo tặc tất nô tỳ lạc đường, đao binh trù tổn thương hề giảm (tổn thương đứt gân xương);

(9) Câu Quỷ bị khắc tất ruộng đất giao giáp, sinh khó, khế khoán không rõ.

(10) Sơ hào hung, tổ cơ, mộ địa, Tử tôn không tốt. 

(11) Hào hai hung, bếp không yên, mẹ có tai nạn, tội trạng. 

(12) Hào ba hung giường không tốt, nhân khẩu bất an. 

(13) Hào bốn hung, chủ phòng ngủ loạn, vợ chồng mâu thuẫn, vợ tai tất ứng. 

(14) Hào năm hung, hương hỏa bất an, bố có tai hung. 

(15) Hào sáu hung, xà nhà dễ nát, nô định gặp nạn. 

Trong quẻ một hào nào cát hoặc hung, ứng người xem quẻ hoặc sự tình ở trong đó, trục hào trục vị mảnh đẩy tường.

7. Quái thân luận nền nhà:

Đoán nền nhà lấy Quái thân làm Dụng thần, 

(1) Quái thân vượng tướng, nền nhà rộng lớn, hưu tù thì nhỏ hẹp. 

(2) Hào dương nền nhà vuông, hào âm nền nhà tròn. 

(3) Quái thân nhập quẻ 

* Càn nền nhà cao, 

* Khôn, Khảm nền nhà thấp, gần hồ nước đầm lầy. 

* Lâm Cấn cạnh núi non, gần phần mộ,

* lâm Chấn gần phố xá sầm uất, cây rừng. 

* Lâm Tốn gần trúc mộc hoa quả, vườn hoa vườn rau. 

* Ly, Càn hướng mặt trời, gần hầm lò dã (xưởng luyện thép). 

* Lâm Khôn, gần ngoại ô, vùng bỏ hoang, phần mộ. 

* Lâm Đoài gần hồ nước đầm

(4) Quái thân lâm hào thập nhị chi khác nhau sẽ khác nhau:

* Tý thủy nền nhà hai đầu nhọn ở giữa rộng 

* Hợi thủy nền nhà ở bờ nước chỗ ngoặt cong; 

* Dần mộc xa cây xuân dương; 

* Mão mộc hai nhà nền tương liêng.

* Tị hỏa bốn phía bị người bao trùm; 

* Ngọ hỏa trước lớn sau nhọn;

* Thân kim trong tường đá rộng; 

* Dậu kim tứ phương không trống trải, chất hẹp;

* Thìn thổ nền cao; 

* Tuất thổ nền ngang;

* Sửu thổ nền trước nhỏ sau lớn;

* Mùi thổ nền dài, đằng sau như cái vòng của cái thìa.

(5) Thân

* gặp trọng (O dương động) nền cong tròn;

* gặp giao (X âm động) nền vuông thẳng. 

* Gặp hình xung nền cao thấp phá khuyết. 

* Phùng sinh hợp nền vuông tròn chỉnh tế. 

* Gặp tam hợp mà gặp Nhật thần hào động hình xung khắc hại, nền đất có một chỗ thiếu,

* Thân gặp tam hình nền tại mũi đất nhọn, 

* Thân gặp lục hại nền nhà cũ nát đổ phá được trùng tạo.

* Quẻ gặp lục hợp, đất ở trung ương; 

* quẻ trị lục xung ở đầu ngõ hẻm, 

* Thân ở Phụ nền nhà cũ mới được tôn lên. 

* Thân ở Huynh bạn là tài sản của bản thân. 

* Thân không phục Quỷ lại là đất của người khác, 

* Thân phục dưới Quan phi cung đất tất tuyệt hậu.

*  Dưới Thân phục Tử là đất của đạo quán, tăng phòng hoặc từ đường, miếu thờ.

* Thân không hiện lại không phục hoặc Thân ở không tuyệt, không phải đất tuyệt hậu thì hẳn là đất của người khác. 

* Phụ hóa Quỷ đất tuyệt hậu; 

* Thân suy trị mộc nền đất cũ cây cỏ mọc rậm rạp; 

* Thân kim hóa kim là đất phá nhà đi làm lại; 

* Thân thổ hóa kim dời nền từ cao xuống thấp; 

* Thân thổ hóa thổ là đất mới mở. 

* Long Phụ vượng động khắc Thân, chủ nhà chật chội; 

* Hổ Phụ động khắc Thân, bán đi bên phải, 

* Quỷ thủy khắc Thân (Huyền Vũ) nền nhà ẩm ướt, 

* Chu Tước lâm Tài hóa Phụ, hỏa sau nhà (phế tích sau đám cháy hoặc hỏa thiêu). 

* Hào hai khắc Thân đất hẹp; 

* Thân khắc hào hai đất không ngay ngắn; 

* khắc ba bốn hào thân cửa xung đất, 

* hào năm khắc Thân có đường xung nhà; 

* hào sáu khắc thân có góc tường tòa nhà xung nền nhà, 

* sơ hào và hào Ứng mang thổ đến sinh hợp Quái thân, hai nhà chung đất. 

* Huynh lâm Tý thủy động khắc hào Quái thân, phương bắc có người tranh đất; 

* Huynh lâm Ngọ hỏa động khắc Thân, phương nam có người tranh đất, cứ thế mà đoán.

Ở trên Quái thân là chỉ Nguyệt Quái thân và Quái thân cùng xem, lấy Nguyệt Quái thân làm chủ, Quái thân thứ hai.

8. Hào hai đoán phong thủy:

Đoán phong thủy nhà chủ yếu là bắt lấy hào hai xem thêm các ngũ hành khác hợp đoán, 

(1) cần lấy hào hai là Dụng, lại lấy hào Phụ mẫu là Dụng,

(2) lại có thể 

* Phụ mẫu là đường, 

* Quan quỷ là sảnh; 

* Thê tài là kho (phòng chứa đồ, khố phòng) lò, phòng bếp; 

* hào Tử tôn là con đường, hành lang thư phòng; 

* hào Huynh đệ là cửa nhà, vách tường, Trị Huyền Vũ, hào thủy là hố xí;

(3) vượng tướng được Nguyệt, Nhật Thời sinh hợp, mang Quý Mã, Long, Hỉ, Đức, Lộc, Tài, Phúc động là nhà mới xây.

Hưu tù không tử mộ tuyệt thai, gặp Tuế, Nguyệt, Nhật, Thời hình xung khắc hại thêm Xà Hổ Vong Kiếp Sát động, nơi ở cũ phá bại. 

(4) Nhà không tuyệt hậu, 

* nhà vượng trùng kiến,

* nhà vượng tướng tất vinh xương,

* nhà hưu dễ chuyển, 

* nhà tù người vong, 

* nhà tử sẽ bán,

* nhà thủy gặp hỏa tất phát,

* mộc gặp thổ vượng đồng ruộng,

* thổ gặp mộc nhà nghiêng tổn hại, 

* hỏa trị kim tiệm mới, mộc gặp mộc trùng phùng lại gặp mộc Mệnh (nạp âm năm Mệnh) người xem, ngũ môn nhất thống, lầu các trùng điệp, Quý nhân Phúc đức làm nhà, thế hệ danh gia, Hoa Cái Văn Xương nhập nhà đương kim danh Quan. 

* Hỏa không có thủy ở nơi bần cùng,

*  thủy thủy vô kim là bỏ hoang lạnh giá,

* nhất mộc nhị mộc đài các cực khổ,

* thủy gặp hỏa lâm Huynh đệ, nhà hòa hợp,

* thủy gặp kim trị Phụ mẫu, nhà ung mục. 

* Quỷ lâm nhà không động tất chủ đại nạn lâm đầu. 

* Thái Tuế lâm nhà không động, nhân khẩu tất tổn thương.

* Bạch Hổ lâm nhà không động, người người chết. 

* Phụ không là không có chính đường. 

* Phụ tù tử nhà băng lậu, 

* Phụ hóa Phụ không phải có hai đường, hẳn là nhà cao tầng, cũng có ý là hủy nhà cũ xây nhà lớn. 

* Phụ hóa Tử hủy nhà cũ xây nhà nhỏ. 

* Phụ hóa Tài hủy nhà cũ trọng xây, đem nhà cũ thành chân phòng (trù lò, nhà kho... ) 

* Phụ hóa Quan đổi đường là sảnh, hung suy không vượng. 

* Phụ hóa Huynh an cửa lập xí, 

* Phụ phục dưới Tài bếp trong nhà,

* Phụ phục dưới Huynh, hai họ hợp cửa xuất nhập.

* Phụ phục dưới Tử, phòng phụ cao, phòng chính thấp, 

* Phụ phục dưới Quan phi quan gia tất vị quan phòng. 

* Phụ phục dưới Quỷ mang hợp là có quan tài. 

* Phụ phục dưới mộc Quỷ mang hỏa gặp không suy tử là nhà cỏ. 

* Phụ phục dưới thổ Quỷ gặp tử mộ, dưới nhà có cốt, phần mộ.

(5) Chu Tước phía trước, 

* Huyền Vũ ở phía sau, 

* Thanh Long ở bên trái, 

* Bạch Hổ bên phải, 

* Câu Trần hướng Thìn Tuất, 

* Đằng Xà chính là đất Sửu Mùi, 

nội Ngũ Hành và ngoại Ngũ Hành đồng luận. 

* Quỷ không là không có sảnh, 

* Quỷ hóa Quỷ có hai sảnh, mang sát thì tất trạch địa chẳng lành, đêm nhiều quái mộng, nếu gặp hình xung khắc hại Thân Thế tất chủ trùng điệp tại tụng. 

* Quỷ hóa Huynh tổn tài chiêu trộm, 

* Quỷ hóa Phụ phục Phụ người nhà thường có người bị bệnh quỷ ma, đa chiêu thị phi cãi vã, mệnh đại quý lại không ngại, phản đoán. 

* Huynh hóa Huynh trùng điệp cửa tương đối, chủ hàng xóm hay cãi lộn thị phi. 

* Huynh hóa Quỷ sinh quan phù lao dịch, tổn vợ hao tài, 

* Tài hóa Tài liên thủ (kho, phòng chứa đồ) nặng lò, mang hung sát vợ bệnh không yên, nô lấn chủ phản nghịch, Tài hóa Quỷ cũng vậy. 

* Tài hóa Phụ nơi ở hẹp thấp, nhân khẩu nhiều tai họa. 

* Tài hóa Huynh phá tài, 

* Tài hóa Quỷ quý nhân lên chức, 

* Tài Thế động chủ bán nhà, phá nhà, đồng thời lại chủ khắc song thân.

* Hàm Tri Huyền Vũ lâm nhà tất xuất dâm loạn tặc nhân,

(6) Thân Thế là bản thân, Thê tài là thê thiếp (nữ Quan quỷ là chồng), Phụ mẫu là đời trước, Tử tôn là thế hệ sau, Huynh đệ là tỷ muội, đoán tỉ mỉ lục thân. 

* Phúc (Tử tôn) không, Hoa Cái nhà xuất người tăng đạo. Lục thân luận giống như trên; 

* Bạch Hổ và Tử tôn lâm nhà tất hậu sinh lang thang.

* Hổ Sát Nhận thêm hình hại lâm nhà trong nhà thường xảy ra sự tình hung ác; 

* Long Đức Phúc thích lâm nhà thì nhà xuất người thiện lương; 

* Chu Tước Tử tôn động nhà xuất người tụng phật niệm kinh; 

* Tham Lang thêm Xà Quỷ lâm nhà, xuất người cổ dài hoặc cổ dị dạng; 

* hào nhà lâm Quỷ động, gặp thây nằm,

* Thiên Hình, Phi Liêm, Dương Nhận hung sát khắc hào nhà, chủ có người mang tật: mặt rỗ, chân thọt, tay gẫy, người có sẹo, mũi đầy nước, vẩu, miệng có vẩy, ho suyễn, bại liệt..., chỉ có đem quẻ phối mười hai cung mới có thể vận dụng. Trong đó thần sát, tinh diệu đều phân bố tại muời hai cung trong hai loại mười hai cung đoán mạng pháp của Trần Đoàn, Tử bình. Ngũ hành có thể định cầm tinh, lục thân, bộ vị, chứng bệnh, xem tỉ mỉ về nhà cửa.

9. Quẻ tượng ngũ hành định kiểu nhà:

(1) Càn tròn, Khôn vuông, Cấn nặng, Đoài thiếu, Ly hư, Khảm thực, Chấn, Tốn thẳng, đều lấy quái cung mà định ra, 

(2) lại phối hợp lục thần đoán, 

* Câu Trần lâm hào Phụ nhà phá một nửa

* Xà Lâm hào Phụ phòng nối nhau;

* Huyền lâm hào Phụ nhà xây mở; 

* Tước lâm hào Phụ nhà có một lỗ hổng; 

* Hổ Lâm hào Phụ nhà tổn hại; 

* Long làm hào Phụ trái dài phải ngắn,

* Xà thêm thủy lâm hào Phụ hưu tù là nhà đơn sơ; 

* Hào nhà thổ hóa thổ kéo trước kéo sau;

* mộc hóa mộc nhà ngang hoặc nhà cao tầng trùng điệp; 

* hỏa hóa hỏa nhà có ống khói,

* Tước khắc Huyền trước cao sau thấp; 

*Long khắc Hổ trái cao phải thấp, 

* kim gặp Câu sinh, ở giữa nổi lên bốn phía thấp, 

* Long tử Hổ sinh tây cao đông thấp, 

* Tước suy Huyền vượng, trước hẹp sau rộng; 

* thổ vượng mộc suy hẳn là nhà trệt thấp. 

(3) Nhà lớn nhỏ có thể từ vượng suy sinh khắc mà nói.

* Hào nhà vượng tướng phùng sinh, Tài vượng động hóa Phụ, hào Phụ vượng tướng trọng hiện đều chủ nhà lớn rộng rãi. 

* Phụ suy gặp Xà, Phụ vượng Tước hưu đều chủ nhà đơn sơ.

*  Hào Phụ vượng tướng mới, hưu tù tử cũ,

* Phụ suy hào nhà vượng nửa mới nửa cũ,

* hào vượng lục thần suy mới cũ đụng nhau, 

* Tài động hóa Phụ trừ hao mòn thay mới. 

* Hào nhà hào Phụ suy mà Thê tài vượng động tất chủ phòng nhà khuynh đảo. 

* Lại hào Phụ, hào nhà, hào Thế ba không chủ ba lần chuyển nhà hoặc nhà đào vong tuyệt hậu. 

* Nhà lâm Càn, Đoài cung gặp Tử động chỗ gần có am ni cô, chùa quán hoặc miếu thờ, 

* lâm kim Hổ hào Quỷ, nhà đồ tể quân nhân,

* gặp Hổ Huynh đệ động, gần đó có sòng bạc, 

* hào Phụ động hóa Quan, gần đó có công quán; 

* hào sơ hào hai là mộ địa của Quỷ động, mở cửa gặp mộ phần. 

* Còn nói: Dần, Tị, Thân, Hợi mộ phần tại bốn góc, Tý Ngọ Mão Dậu mộ phần tại bốn bề đối diện, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi mộ phần tại hai bên. 

* Lại có thuyết pháp chỗ hào vị chủ ba trái bốn phải, năm trước sáu sau, cũng tương đối chính xác. 

(4) Còn nói: 

* Kim hào không động chính tây, tây bắc, phía tây nam chủ chạy nạn trôi dạt khắp nơi, phương đông có thể ở, có thể lưu Tử tôn. 

* Thủy hào không động Đông Bắc quả, Tây Nam cô, Tây Bắc xuất chân tật. Chính nam có thể ở, địa phương bảo đảm bình an.

* Hào hỏa không động, phương đông tại khốn nhiều năm, Tây Bắc hai đời mẹ goá con côi, Tây Nam thoát đi nơi ở không về, Đông Nam có thể ở, địa phương bảo đảm cát tường.

* Hào Thổ không lại động, chính tây khó ở, chủ có tam đại lão quả (cô quả), tây phỏng ấu quả lưu tôn bất tuyệt (con cháu khó sống), Đông Bắc chính đông có thể ở. 

* Hào Mộc không động, chính đông, tây bắc, đông bắc có tử (con cháu), đông nam chính tây chủ cô, chính tây không thể an giường, tây nam có họa. 

(5) Phàm xem gia đình gặp Thế không, Thế gặp xung hoặc Thân Thế lâm hào năm sáu động tất chủ ly tổ đi xa nhà. 

(6) Hào Thế lâm quẻ ngoại đồng  chi với hào nhà là Thế lâm nhà ngoại, động thì ly tổ ở riêng, tĩnh cũng cư trú nhà khác. 

(7) Nơi ở xung hào sáu biến tổ thiên di. 

(8) Hai Quỷ hai Tài, lưỡng thừa tông tự, 

(9) hai hào Phụ trọng hiện đương quyền (lâm Nguyệt), sùng bái song thân, người hai họ ba tên.

(10) Mộc cư quẻ ngoại, vượng động hợp hào nhà hào Phụ tất có đại thụ, bóng mát. Lấy quẻ hào ngũ hành định phương vị, nếu Nhật hình hào mộc thì cây đã bị chặt gãy lưu cái cọc hoặc phá hư, nếu Nguyệt kiến hình khắc thì cây gãy đã lâu.

Chương liên quan đến đoán gia trạch, đơn giản là khai thác phân tích Lục hào hào dương từng khâu cát hung, độ dài có hạn, không thể luận giải tỉ mỉ, tường gặp ví dụ, khắc sâu lĩnh ngộ, linh hoạt vận dụng.













Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

HÀO HAI

HÀO SƠ

HÀO SÁU